tắc động mạch chi dưới
Tắc động mạch chi dưới dễ bị bỏ qua do bệnh có triệu chứng không rõ ràng và thường được chẩn đoán nhầm với các bệnh lý về cơ xương khớp, bệnh do tuổi già. Tuy nhiên hậu quả của bệnh rất nguy hiểm dẫn đến tàn phế. Bệnh viện Việt Đức đang tiếp nhận nhiều ca biến chứng do căn bệnh này.
Mạch công tắc cảm ứng nước mưa SENS-RAIN01 ứng dụng cho điện gia đình , vườn tự động, hệ thống nhà xưởng, hệ thống giàn phơi tự động Zalo Hotline 24/7: 0904.687.698 0904.656.698 1900 86 86 63
Trang chủ / Tắc động mạch. Tắc động mạch. Thương hiệu Khoảng giá Liên quan. Tên A->Z. Thấp đến cao. Cao đến thấp
Mạch sao tam giác mở là hệ mạch được sử dụng phổ biến với cuộn dây động cơ được mở trong suốt thời gian chuyển đổi cuộn dây từ chế độ sao sang chế độ tam giác. Loại mạch này sử dụng 3 công tắc tơ và rơ le định thời. Ưu điểm: Dễ dàng thực hiện, chi phí
Trong đó hẹp - tắc động mạch chày sau và chày trước 2 bên chiếm tỷ lệ cao nhất. Có sự tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa ABI và thời gian phát hiện đái tháo đường và HbA1C. Nhóm hẹp động mạch chi dưới trên siêu âm Doppler có thời gian phát hiện bệnh đái tháo đường lâu hơn và HbA1C cao hơn nhóm không hẹp.
Tắc động mạch phổi: tục qua rốn phổi cho nhánh thứ hai đến thùy trên và sau đó chia ra cấp máu cho thùy giữa và dưới. ĐỘNG MẠCH PHỔI TRÁI Các cấu trúc của phổi và màng phổi tạng được chi phối bởi nhánh hường tâm và ly tâm của tạng thông qua đám rối phổi
App Vay Tiền Nhanh. Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Đỗ Xuân Chiến - Trưởng khoa Khám bệnh & Nội khoa và Cố vấn chuyên môn, Khoa khám bệnh và Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long. Viêm tắc động mạch diễn biến từ từ, khó chẩn đoán dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác vì vậy nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là nhiễm trùng toàn thân, phải cắt cụt chi bị hoại tử, thậm chí tử vong. Viêm tắc động mạch là tình trạng viêm co thắt các động mạch hoặc xơ vữa gây thiếu máu nuôi dưỡng gây rối loạn dinh dưỡng và hoại tử tổ chức mô của cơ thể Đặc điểm diễn biến bệnh Bệnh diễn biến với đau chi tăng dần, đau theo đợt, đau tăng khi đi lại đỡ khi nghỉ ngơi sau đó mạch đập yếu dần rồi mất mạch hẳn. Thời gian giữa các đợt ngày càng ngắn lại và thời gian bệnh ngày càng kéo dài ra làm cho bệnh nhân đau đớn, toàn trạng suy sụp, hoại tử chi... cuối cùng phải chỉ định mổ cắt cụt chi. Ngoài ra bệnh nhân có thể tử vong do hoại tử chi lan rộng gây sốc nhiễm trùng nhiễm trí thường tắc mạch là chi dưới, chi trên cũng có thể gặp và những vùng khác của cơ thể như tắc mạch vành, tắc mạch máu não,...Bệnh viêm tắc động mạch thường gặp ở nam giới, người hút thuốc lá nhiều, béo phì,... Lạm dụng thuốc lá làm tăng nguy cơ gây viêm tắc động mạch 2. Nguyên nhân gây viêm tắc động mạch Các nguyên nhân gây bệnh viêm tắc động mạchBiến chứng mạch máu nhỏ của đái tháo đường gây tổn thương các mạch máu và thần kinh dẫn đến viêm tắc mạch máu thường gây hoại tử, loét vùng tỳ vữa động mạch ở người cao tuổi nội mạc mạch máu bị dày lên gây hẹp các mạch máu. Khi vận động, nhu cầu về lưu lượng máu cung cấp không đủ gây viêm tắc động thuốc lá Chất độc từ khói thuốc sẽ gây viêm và kích thích co thắt mạch máu ở đầu chi. Lúc đầu chỉ đau nhức đầu chi, nhưng dần dần sẽ tím tái các đầu ngón và đưa đến hoại tử loét không lành. 3. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh viêm tắc động mạch Triệu chứng lâm sàngCác triệu chứng của bệnh viêm tắc động mạch bao gồmDị cảm Vùng tắc động mạch có cảm giác lạnh và dị cảm như Tê bì, kiến bò, mỏi chi và giảm vận động của hiệu đau cách hồi Dấu hiệu đau cách hồi biểu hiện khi bệnh nhân đi được một đoạn thì xuất hiện đau dữ dội và co rút cơ ở bắp chân, cần phải dừng lại để nghỉ cho đỡ đau sau đó mới có thể đi tiếp. Hiện tượng trên lặp đi lặp lại khi đi được 1 đoạn. Tình trạng đau cứ tiếp diễn và tăng dần quãng đường đi được giữa các lần nghỉ ngày càng ngắn lại trong khi thời gian phải nghỉ để đỡ đau ngày càng dài hơn. Tắc động mạch gây tê bì tay chân Thay đổi màu sắc da vùng chi bị tổn thương theo tư thế. Bình thường thấy da có màu tái nhợt, khi bệnh nhân để thõng chân xuống để máu đến chi nhiều hơn thì thấy da đỡ tái nhợt và hồng hào yếu hoặc mất hẳn Mạch chày sau và mạch mu chân yếu hoặc triệu chứng khác Rối loạn tiết mồ hôi, da chi thường khô, teo, lông thưa, rụng, cơ bị teo, nhẽo, loét hoại tử đầu Triệu chứng cận lâm sàngSiêu âm động mạch và Doppler động mạchSiêu âm động mạch Xác định tình trạng thành động mạch dày lên, nội mạc động mạch dày, xác định tình trạng các cục nghẽn mạch..Doppler động mạch xác định được các biến đổi của dòng máu lưu thông trong động mạch bị viêm tắc như Giảm tốc độ dòng máu, giảm lưu lượng máu, các cục nghẽn...Chụp cắt lớp vi tính hay chụp cộng hưởng từ động mạch Xác định được các biến đổi về hình thái của động mạch bị viêm tắc, xác định được vị trí viêm tắc, các thay đổi về hình thái của các tổ chức và cơ quan xung động mạch cản quang Giúp xác định được tình trạng và mức độ co thắt của các động mạch bị viêm tắc, các cục nghẽn trong động mạch, đánh giá lưu thông của dòng máu trong động mạch... Hình ảnh chụp động mạch cản quang 4. Điều trị bệnh viêm tắc động mạch Điều trị nội khoaLoại bỏ các yếu tố kích thích gây co thắt mạch máu như môi trường lạnh, ẩm, không hút thuốc, tránh các căng thẳng về tâm lý và sinh lý, chế độ ăn uống đầy đủ các chất và Vitamin...Dùng các thuốc chống co thắt mạch máuDùng lý liệu pháp để giãn mạch như chiếu sóng ngắn, liệu pháp ion, xoa bóp... Điều trị ngoại khoaCác phương pháp tác động lên hệ thần kinh giao cảmMổ cắt bỏ mạng lưới thần kinh giao cảm quanh động mạch. Việc mổ cắt bỏ mạng lưới này làm giảm co thắt mạch máuMổ cắt bỏ tuyến thượng thận sẽ làm giảm được các Adrenalin do tủy tuyến thượng thận tiết ra làm giảm được tình trạng co thắt động thuật phục hồi tuần hoàn vùng chi bị viêm tắc động mạchMổ cắt lớp nội mạc, sau đó lấy bỏ các cục nghẽn động mạchMổ ghép mạch máu Dùng một đoạn mạch máu để ghép thay vào đoạn động mạch đã bị cắt thông mạch máu bằng can thiệp nội mạch máu bằng các phương pháp sauNong rộng đoạn động mạch bị hẹp do viêm tắc bằng cách đưa bóng nong vào lòng động mạch đến đoạn động mạch hẹp, bơm bóng cho căng ra để nong rộng lòng động mạchĐặt Stent vào đoạn động mạch hẹp Stent là một khung có độ cứng nhất định, được đặt trên một bóng nong động mạch. Phương pháp này giúp tránh được tình trạng động mạch bị xẹp lại sau khi nong. Đặt stent nong động mạch Phẫu thuật cắt cụt chi bị viêm tắc động mạchĐây là biện pháp điều trị cuối cùng. Chỉ định khi tình trạng hoại tử chi tiến triển không thể điều trị bảo tồn, giúp giữ được tính mạng cho bệnh nhân. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Tìm hiểu về bệnh động mạch ngoại biên Biến chứng nguy hiểm của bệnh Gout Hoại tử chỏm xương đùi có thể tàn phế nếu không được chữa trị triệt để
Bệnh tắc động mạch mạn tính BTĐMMT còn được gọi là bệnh động mạch ngoại biên BĐMNB, bệnh mạch ngoại biên BMNB có thể xảy ra cho cả tĩnh mạch, bệnh tắc động mạch ngoại biên… và thường được hiểu là một căn bệnh của các chi, nhất là chi dưới, vì đó là nơi bệnh xảy ra nhiều nhất.⇒ Hội chứng rối loạn mạch máu bẩm sinh – Klippel – Trénaunay – Weber⇒ Xơ vữa động mạch – Những nét nhận diệnTuy nhiên, cũng không nên hiểu bệnh này chỉ là của các chi mà nó có thể ảnh hưởng đến các động mạch của toàn cơ thể, ví dụ động mạch thận gây ra cao huyết áp do mạch thận, các động mạch não gây ra đột quỵ và các cơn thiếu máu não thoáng qua, các động mạch của nhiều tạng khác trong ổ bụng…Bài này chỉ đề cập đến BTĐMMT của chi dưới. Xơ mỡ gây hẹp động mạch chân Tắc động mạch mạn tính chi dưới là tình trạng một động mạch nào đó cung cấp máu cho chi dưới bị hẹp hay bị tắc hoàn toàn, làm giảm hoặc không có máu đến nuôi chi dẫn đến tổn thương và hoại tử chi. Nguyên nhân chính của bệnh hầu hết là do xơ – mỡ động mạch. BTĐMMT của các chi chiếm tỷ lệ 12 – 14% trong dân số chung, gặp ̉ 20% những người trên 70 tuổi. Bệnh không có triệu chứng giai đoạn sớm trong 70 – 80% các trường hợp. Tỷ lệ lâm sàng có triệu chứng tăng theo tuổi và chỉ một thiểu số là phải can thiệp phục hồi mạch khoảng 7% hay cắt đoạn chi khoảng 4%. Trong khi đó, những người mắc BTĐMMT có nguy cơ đặc biệt cao về đột quỵ và biến cố động mạch vành, có tỷ lệ tử vong trước 5 năm ước tính là 30% so với 10% nhóm chứng. Bệnh kết hợp nhiều nhất với đái tháo đường, gặp 1/3 số người đái tháo đường trên 50 2010, trên thế giới có khoảng 202 triệu người mắc BTĐMMT của các chi. Năm 2013, số tử vong vào khoảng người so với năm 1990 – khoảng người.Cách tốt nhất để phòng bệnh là kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và người mắc bệnh phải biết giữ gìn bàn chân cẩn thận để ngăn ngừa các biến chứng nhiễm trùng và hoại dung bài viêtTriệu chứng của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiNguyên nhân của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiCác yếu tố nguy cơBiến chứng của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiChẩn đoánPhân loại thiếu máu mạn tính của các chiĐiều trị tắc động mạch mạn tính chi dướiThay đổi nếp sốngThuốcPhục hồi mạch máuPhòng bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiGiữ gìn bàn chân cẩn thậnTriệu chứng của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiGiai đoạn sớm của bệnh triệu chứng rất nghèo nàn và thường dễ nhầm lẫn với bệnh khác. Biểu hiện sớm nhất của bệnh là tình trạng đau thường là ở bắp chân và khập khiễng cách hồi * người bệnh sau khi đi bộ được một đoạn đường cảm thấy đau hoặc có cảm giác chân bị bó chặt do máu đi xuống không cung cấp đủ oxy cho các cơ gây ra đi khập khiễng, phải dừng lại nghỉ thì bớt đau và sau đó có thể đi tiếp được một đoạn đường tương tự thì đau và khập khiễng trở lại. Triệu chứng này thường bị nhầm lẫn với đau do thoái hóa cột sống thắt lưng hay thoát vị đĩa đệm. Vì vậy, người bệnh ở giai đoạn này thường không được chẩn đoán và điều trị chính xác. Đau bắp chân, đi khập khiễng cách hồi Giai đoạn trễ hơn người bệnh có thể đau chân thường xuyên và liên tục ngay cả khi nghỉ ngơi, đặc biệt cơn đau thường nặng vào lúc gĩa khuya hay rạng sáng; khi thả lỏng chân, cơn đau có thể dịu hơn nên người bệnh thường mất ngủ hoặc ngủ trong tư thế ngồi thõng chân. Muộn hơn ña, phần xa của chi các ngón chân hoặc bàn chân sẽ có những vết loét hay hoại tử xuất hiện tự nhiên làm người bệnh hay nhầm lẫn với các bệnh về da liễu. Phần chi hoại tử nếu không được điều trị kịp thời sẽ hoại tử tăng dần và lan đến cẳng chân thậm chí cả vùng triệu chứng và dấu hiệu nội khoa của BTĐMMT chi dưới do tưới máu không đủ, bao gồm– Đau bó chặt ở háng, đi hoặc các cơ bắp chân sau hoạt động như đi lại hay leo cầu thang khập khiễng cách hồi.– Thay đổi màu sắc và nhiệt độ – xanh tím và lạnh so với chân kia.– Chứng nghiệm Buerger tái nhợt khi giơ cao chân và hồng lại khi đổi sang ngồi, để đánh giá suy động mạch.– Rụng lông và chậm dài các móng ở bên chi bị bệnh.– Tê bì hay yếu cẳng chân.– Mạch cổ chân – bàn chân yếu hoặc không bắt được.– Các dấu hiệu của thiếu máu chi trầm trọng ở giai đoạn muộn các ổ loét ở bàn chân – cẳng chân do suy động mạch, đau, chậm lành hoặc không lành và hoại thư ở các đầu ngón lan dần lên BTĐMMT nặng lên, đau có thể xảy ra cả khi nghỉ hay khi ǹm đau thiếu máu khi nghỉ. Gây mất ngủ. Phải thả lỏng các cẳng chân ra ngoài giường ho đi lại trong phòng có thể tạm thời giảm nhân của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiNguyên nhân của tắc động mạch mạn tính chi dưới là chứng xơ – mỡ gây tắc ** chiếm trên 95% các trường hợp. Số còn lại bao gồm các bệnh viêm tắc động mạch do huyết khối hay bệnh Buerger ***, các dạng khác của viêm động mạch, thiếu máu mạn do thuyên tắc động mạch ở chi sau cơn cấp, chấn thương động mạch, huyết khối các phình động mạch, các túi phình động mạch bóc tách, giải phẫu không bình thường của các dây chằng và cơ hoặc do phơi nhiễm phóng yếu tố nguy cơBao gồm hút thuốc; đái tháo đường; béo phì; cao huyết áp; cholesterol cao; tất cả nh̃ng người 50 – 69 tuổi và có nguy cơ bệnh tim mạch nhất là đái tháo đường, hút thuốc; tuổi dưới 50 kèm các nguy cơ khác của xơ – mỡ; trong gia đình có người bị BTĐMMT, bệnh tim hay đột quỵ; người được biết là có xơ – mỡ động mạch vành, động mạch cảnh, hay bệnh động mạch thận; tất cả nh̃ng người bị cơn đau thắt ngực trước đó; tất cả nh̃ng người có Framingham risk score 10% – 20% đây là một công cụ để đánh giá nguy cơ trước 10 năm của bệnh tim – mạch.Người hút thuốc hoặc đái tháo đường có nguy cơ bị BTĐMMT lớn nhất, do dòng máu chứng của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiKhi BTĐMMT của bạn gây ra bởi các mảng xơ – mỡ của thành mạch, bạn cũng có nguy cơ bị– Thiếu máu chi trầm trọng. Tình trạng này bắt đầu b̀ng các vết loét không lành, một tổn thương hay một nhiễm trùng ở bàn chân – cẳng chân. Tình trạng thiếu máu trầm trọng xảy ra khi các tổn thương hay các nhiễm tr̀ng này tiến triển và có thể gây ra hoại thư, đôi khi phải cắt đoạn chi.– Đột quỵ hay cơn đau thắt tim do mỡ cũng có thể lắng đọng ở các động mạch nuôi tim và não. Các ngón chân bị hoại tử Chẩn đoánViệc chẩn đoán chính xác bệnh và giai đoạn bệnh thường dựa vào– Khám lâm sàng. Mạch yếu hoặc không sờ được ở phía dưới nơi động mạch bị hẹp, nghe như tiếng gió rít qua ống nghe đặt trên các động mạch, huyết áp giảm bên chi bị bệnh, các tổn thương tại v̀ng thiếu máu như teo cơ, lạnh chi, tím đầu chi hoặc thậm chí hoại tử ngọn chi.– Xác định vị trí mạch máu bị tắc, đánh giá mức độ tưới máu phần xa của chi b̀ng cách đo chỉ số huyết áp cổ chân – cánh tay CSCC-CT. Chỉ số này bình thường là 1,00 – 1,40. Chẩn đoán là BTĐMMT khi chỉ số này ≤ 0,90. Khi < 0,40 thì gợi ý một BTĐMMT nặng.– Người nghi bị BTĐMMT nhưng CSCC-CT bình thường khi nghỉ, cần đo chỉ số này sau khi cho người bệnh tập trên máy chạy bộ đến khi xuất hiện cơn đau khập khiễng hoặc đo sau chạy tối đa 5 phút. Nếu chỉ số giảm 15% – 20% thì có thể chẩn đoán là bị BTĐMMT.– Siêu âm. Giúp đánh giá dòng máu và xác định vị trí động mạch bị tắc hay hẹp.– Chụp mạch máu kỹ thuật số xóa nền là tiêu chuẩn vàng, giúp xác định chính xác tổn thương vừa kết hợp điều trị can thiệp nội mạch khi có chỉ định.– Các kỹ thuật chụp động mạch khác, kể cả phương pháp chụp qua loại thiếu máu mạn tính của các chiThay cho phân loại trước đây của Fontaine 1954, ngày nay người ta sử dụng nhiều hơn phân loại của Rutherford – Baker 1997 với 4 cấp độ và 7 loại– Cấp độ 0, Loại 0 – Không triệu chứng.– Cấp độ I, Loại 1 – Khập khiễng nhẹ– Cấp độ I, Loại 2 – Khập khiễng trung bình.– Cấp độ I, Loại 3 – Khập khiễng nặng.– Cấp độ II, Loại 4 – Đau cả khi nghỉ.– Cấp độ III, Loại 5 – Mất mô nhỏ Loét thiếu máu không lớn hơn loét các ngón chân.– Cấp độ IV, Loại 6 – Mất mô lớn Các loét thiếu máu nghiêm trọng hay hoại thư thực trị tắc động mạch mạn tính chi dướiThay đổi nếp sống– Kiểm soát các yếu tố nguy cơ bỏ hút thuốc, kiểm soát đái tháo đường, kiểm soát cao huyết áp.– Dùng các thuốc chống tiểu cầu aspirin, clopidogrel dự phòng nghẽn mạch huyết khối và các statins giúp hạ cholesterol, giảm các tai biến tim-mạch.– Luyện tập đều đặn, ví dụ tập trên máy chạy bộ 35 – 50 phút, 3 – 4 lần/ tuần giúp mở các mạch máu nhỏ dòng phụ cận, cải thiện việc đi lại vả giảm các sự cố hay pentoxifylline có thể cải thiện triệu chứng rối loạn mạch ngoại biên khập khiễng cách hồi và thiếu máu cục bộ loét, hoại thư cẳng chân….Folate và vitamin B-12 có hiệu quả đối với tăng homocystein – máu homocystein được cho là một yếu tố nguy cơ về mạch máu.Phục hồi mạch máu– Tạo hình mạch tạo hình qua da – trong lòng mạch cho các mạch lớn, ví dụ động mạch đ̀i hay các động mạch chậu. Kết quả có thể không được lâu dài.– Cắt bỏ mảng xơ-mỡ phía trong thành mạch.– Nối tắt mạch, d̀ng tĩnh mạch hiển lớn hay các đoạn ghép nhân tạo.– Khi bị hoại thư chi, phải cắt đoạn chi để phòng ngừa nhiễm tr̀ng đe dọa đến tính mạng.– Làm tan hoặc cắt bỏ cục máu đông trong các trường hợp huyết khối hay thuyên tắc động mạch. Nong và đặt Stent động mạchPhòng bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiCách tốt nhất để phòng bệnh là giữ được nếp sống lành mạnh, kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và nhất là việc gĩ gìn bàn chân. Cần lưu ý tránh d̀ng một số thuốc ch̃a cảm lạnh có chứa pseudoephedrine, gây co mạch làm nặng thêm các triệu chứng của gìn bàn chân cẩn thận– Rửa chân hàng ngày, giữ khô hoàn toàn và đề phòng các vết nứt dễ đưa đến nhiễm trùng.– Mang giày vừa khít, dày, khô ráo.– Cẩn thận khi cắt móng chân.– Không để chân trần khi đi lại.– Khám thầy thuốc ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của đau hay tổn thương ở da* Khập khiễng cách hồi Intermittent claudication claudication có gốc từ tiếng Latinh là “claudicare có nghĩa là đi khập khiễng.** atherosclerosis obliterans** thromboangitis obliteransThS BS Trần Minh Bảo LuânTrích Tạp chí “Sống khỏe” số 12 – Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh⇒ 10 lời khuyên bổ ích cho người bệnh mạch vành ⇒ Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não
Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Bùi Tiến Đạt - Khoa Hồi sức cấp cứu - Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng. Bệnh động mạch chi dưới mạn tính hay thiếu máu chi dưới mạn tính được gây ra bởi nhiều nguyên nhân, thường có tiến triển chậm trong suốt cuộc đời. Vậy bệnh động mạch chi dưới mạn tính là gì? Đối tượng nào có nguy cơ cao mắc bệnh? Thiếu máu chi dưới mạn tính là tình trạng các động mạch chủ và động mạch chi dưới bị hẹp lại, gây cản trở lưu thông máu đến các cơ và bộ phận liên quan khác như dây thần kinh, da... ở phía hạ lưu. Điều này dẫn đến sự chuyển hóa yếm khí và tăng sản sinh acid lactic, gây đau nhức khi gắng nhiên, càng về sau, người bệnh cũng có thể có cảm giác đau nhức chi dưới ngay cả khi đang nghỉ ngơi, kèm theo với đó là các dấu hiệu thiếu máu cục bộ như loét da, hoại tử... 2. Phân loại bệnh động mạch chi dưới mạn tính Hiện nay, dựa trên triệu chứng lâm sàng, bệnh động mạch chi dưới mạn tính có thể được chia thành 4 giai đoạn I có dấu hiệu mất mạch của một hay một số mạch tại chi dưới, tuy nhiên chưa có dấu hiệu cơ năng rõ đoạn II đau cách hồi khi gắng sức. Giai đoạn này có thể diễn tiến khác nhau tình trạng đau xuất hiện mỗi khi đi hơn 150m hoặc cơn đau xuất hiện khi đi được chưa đến đoạn III tình trạng đau diễn ra ngay cả khi nghỉ ngơi, đặc biệt là khi nằm, buộc bệnh nhân phải ngồi thông đoạn IV có một số biểu hiện rối loạn dinh dưỡng trên da, phía đầu chi bắt đầu có dấu hiệu hoại đoạn III và giai đoạn IV thường được gọi chung là giai đoạn “thiếu máu trầm trọng” với những dấu hiệu triệu chứng rất rõ nétCơn đau xuất hiện liên tục và thường xuyên, ngay cả khi đang nằm. Vì vậy, bệnh nhân thường xuyên phải sử dụng thuốc giảm chân bị loét và hoại bệnh nhân ở giai đoạn “thiếu máu trầm trọng” của bệnh động mạch chi dưới mạn tính đều có tiên lượng xấu. Có khoảng 20% bệnh nhân phải thực hiện cắt cụt chi và cũng có khoảng 20% trường hợp tử vong do bệnh. 3. Đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh động mạch chi dưới mạn tính Dựa trên các thống kê về dịch tễ học, một số đối tượng sau có nguy cơ cao mắc bệnh động mạch chi dưới mạn tínhDưới 50 tuổi, có bệnh hoặc nguy cơ đái tháo đường và một số yếu tố khác như cao huyết áp, hút thuốc lá, tăng homocystein máu, rối loạn lipid máu;Người ở nhóm 50 – 69 tuổi, có tiền sử đái tháo đường hoặc hút thuốc lá;Người trên 70 tuổi;Người có các triệu chứng tại chi dưới có liên quan đến tình trạng gắng sức, đau khi nghỉ;Bệnh nhân có bất thường ở động mạch nuôi chi dưới;Bệnh nhân có các vấn đề động mạch do xơ vữa như xơ vữa ở động mạch vành, động mạch thận hoặc động mạch cảnh... Bệnh nhân xơ vữa động mạch vành có nguy cơ mắc bệnh động mạch chi dưới 4. Chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới mạn tính như thế nào? Thiếu máu chi dưới mạn tính có thể được chẩn đoán dựa trên Dấu hiệu lâm sàng Thiếu máu chi dưới mạn tính có 5 kiểu biểu hiện lâm sàng chính, gồmKhông đau;Đau chân không điển hình;Đau cách hồi chi dưới;Thiếu máu nghiêm trọng chi dưới mãn tính;Thiếu máu chi dưới cấp tính. Đo chỉ số cổ chân – cánh tay khi nghỉ chỉ số ABI Các bệnh nhân bị nghi ngờ có bệnh động mạch chi dưới mạn tính thông qua các triệu chứng lâm sàng sẽ được đo chỉ số ABI khi nghỉ nhằm phát hiện bệnh chính xác đo lường chỉ số này thường được sử dụng để chẩn đoán các bệnh động mạch chi dưới và cần phải được đo ở cả 2 chân nhằm khẳng định chẩn quả đo ABI như sauĐộng mạch cứng khi ABI > thương nếu ABI trong khoảng từ 1 – nguy cơ mắc bệnh nếu ABI trong khoảng từ – bệnh nếu ABI nhỏ hơn Siêu âm Doppler động mạch Việc siêu âm Doppler cho giá trị ý nghĩa khi chẩn đoán các vị trí tổn thương và hỗ trợ đánh giá mức độ hẹp động mạch. Chụp cộng hưởng từ mạch MRA Thường được áp dụng để đánh giá độ hẹp động mạch. Chụp cắt lớp đa dãy động mạch CTA CTA sẽ được cân nhắc chỉ định nhằm chẩn đoán chính xác vị trí tổn thương trong giải phẫu cũng như xác định tình trạng hẹp khít của động mạch đối với bệnh động mạch chi dưới. 5. Hướng dẫn điều trị bệnh động mạch chi dưới mạn tính Kiểm soát các yếu tố nguy cơ Bỏ thuốc lá là một chỉ định bắt buộc đối với bệnh nhân bị bệnh mạch máu nói trị chứng tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường nếu có, kiểm soát đường huyết và huyết áp ở mức ổn trị rối loạn lipid máu nếu hạn chế biến chứng loét da và các tổn thương trên chân, bệnh nhân nên sử dụng tất chân, điều trị sớm những tổn thương nếu xảy ra, hạn chế tiếp xúc với môi trường lạnh và không nên sử dụng thuốc gây co mạch. Bệnh nhân bắt buộc phải bó thuốc lá trong quá trình điều trị Thuốc điều trị Các nhóm thuốc được sử dụng để điều trị thiếu máu chi dưới mạn tính bao gồmThuốc chống ngưng tập tiểu cầu Plavix, Aspirin...Thuốc chống đông máu thuộc nhóm cải thiện tuần hoàn động mạch, cải thiện triệu chứng bệnh như Praxilene, Torental, Pletaal... Điều trị ngoại khoa Phẫu thuật loại bỏ mảng xơ vữa động mạch và dùng mạch nhân tạo để mở rộng động mạch tại vị trí bị xơ vữa;Phẫu thuật bắc cầu nối động mạch;Cắt cụt chi trong trường hợp chi có dấu hiệu hoại động mạch chi dưới mạn tính là một bệnh lý tiến triển dai dẳng và theo từng giai đoạn. Vì vậy, bệnh nhân khi có dấu hiệu cần phải được kiểm tra sớm để kiểm soát các yếu tố làm tăng tiến triển của bệnh, giảm thiểu biến chứng do tắc động mạch. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Quy trình chụp cộng hưởng từ động mạch chi dưới không tiêm thuốc đối quang từ Giải phẫu mạch máu chi dưới Quy trình chụp cộng hưởng từ động mạch chi dưới có tiêm thuốc đối quang từ Dịch vụ từ Vinmec
Tắc động mạch chi là sự tắc nghẽn dòng máu động mạch nuôi dưỡng chi, thường gặp ở người cao tuổi. Bệnh tắc động mạch chi nếu không điều trị sớm sẽ dẫn tới hoại tử phần chi dưới đoạn tắc của động mạch đó nuôi dưỡng dẫn đến phải cắt cụt đoạn chi. quan bệnh tắc động mạch chi Tắc động mạch chi là tình trạng động mạch nuôi dưỡng một phần nào đó ở chi bị tắc nghẽn cấp tính hoặc bán cấp do cục máu đông, mảng xơ vữa hay một nguyên nhân khác, dẫn tới thiếu máu nuôi dưỡng mô do động mạch đó cung cấp máu, nếu không điều trị sớm sẽ dẫn tới hoại tử và hậu quả là phải cắt bỏ một phần nhân và các yếu tố nguy cơ dẫn tới tắc động mạch chiDo các cục máu đông hình thành xa vị trí tắc di chuyển tới, thường gặp ở những người có bệnh lý tim mạch như rung nhĩ, hẹp van 2 lá, suy tim...Tắc động mạch trên nền động mạch bị xơ vữaSau chấn thương, sau phẫu thuậtNhững yếu tố nguy cơ gây bệnh tắc động mạch chi bao gồmTuổi cao, người trên 70 tuổi hoặc những người dưới 70 tuổi nhưng kèm theo các yếu tố nguy cơ bên các bệnh lý mạn tình như Đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp...Người hút thuốc lá kéo dàiBệnh lý động mạch do xơ vữa đã biết trước đó Xơ vữa động mạch vành, động mạch cảnh hay động mạch thận. Người bị hẹp van 2 lá có nguy cơ dẫn tới tắc động mạch chi Dấu hiệu tắc động mạch chiĐau Là dấu hiệu xảy ra đột ngột và dữ dội ở chi bị tắc mạch và bệnh nhân không thể tiếp tục làm việc phải ngưng mọi sinh giác dị cảm Có cảm giác tê bì và cảm giác kiến bò. Sau đó bệnh nhân bị mất cảm giác nông như cảm giác nóng lạnh, tiếp theo là mất cảm giác lạnh Tại vùng chi bị tắc động mạch thấy lạnh hơn bên không bị tổn thương, trường hợp bệnh nhân tới muộn sờ vào có cảm giác lạnh như vật đổi màu sắc ở chi Khi động mạch bị tắc da ở vùng chi bị thiếu máu nuôi trở nên nhợt hơn so với bên chi lành, sau đó sẽ xuất hiện những đốm tím rải rác do sự hoại tử ở vùng mô thiếu máu vận động Sau khi động mạch bị tắc các cơ do động mạch đó nuôi dưỡng bị thiếu máu sẽ bị giảm chức năng, cử động các ngón ở chi bị tắc động mạch yếu hơn bên lành, sau đó có thể mất vận động hoàn mạch dưới chỗ động mạch tắc Đây là dấu hiệu để xác định bệnh tắc động mạch chi chỉ số ABI, đây là chỉ số giữa huyết áp tâm thu đo ở cổ chân mỗi bên trên chỉ số huyết áp tâm thu đo ở cánh tay có giá trị cao hơn. Chỉ số này dưới 0,9 thì được cho là có bệnh lý động mạch đoán xác định bệnh nhờ các biện pháp cận lâm sàng nhưCộng hưởng từ động mạch Giá trị chẩn đoán vị trí tắc, mức độ hẹp động CT động mạch Cho phép xác định chính xác vị trí động mạch bị tắc mà còn giúp đánh giá các tổn thương bị tắc, đánh giá các tổn thương thành mạch và hệ thống các vòng nốI tại vùng động mạch bị tắc nghẽn. Được chỉ định trường hợp chống chỉ định với cộng hưởng âm Doppler động mạch Đây là phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, an toàn cho phép đánh giá cả về vị trí tổn thương, mức độ hẹp. Khảo sát dòng máu dưới chỗ tắc, lựa chọn khi bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật. Cần tái lưu thông dòng máu động mạch cho vùng chi bị thiếu máu đối với bệnh nhân tắc động mạch chi Khi có dấu hiệu tắc động mạch chi, cần có biện pháp tái lưu thông dòng máu động mạch nhanh chóng để nuôi dưỡng cho vùng chi bị thiếu máu. Một trong các phương pháp tái lưu thông dòng máu được sử dụng là phẫu Chỉ địnhPhẫu thuật được chỉ địnhThiếu máu chi có biểu hiện bệnh từ 24h đến 2 tuần, phần chi còn có khả năng bảo tồnMạch máu phía trên và phía dưới của vị tổn thương còn Chống chỉ địnhChống chỉ địnhBệnh nhân có chống chỉ định của phẫu thuật mạch máuMạch máu phía ngoại vi tổn thương nặng, khả năng tắc cầu nối sau Các bước tiến hành phẫu thuậtChuẩn bịNgười bệnh Vì là bệnh lý cấp tính, sau khi xác định được tình trạng, bệnh nhân được phẫu thuật cấp cứu, được làm các xét nghiệm cần thiết và giải thích cụ thể tình hình bệnh tật và các vấn đề liên quan tới phẫu thuật. Thuốc heparin được sử dụng trong quá trình phẫu thuật Tiến hành phẫu thuậtBệnh nhân Vô cảm phù hợp với vị trí tắc động mạch hành kỹ thuậtBộc lộ mạch vị trí phía trên hoặc dưới chỗ tắc mạchSử dụng thuốc chống đông heparin toàn có huyết khối thì lấy huyết khối tại vị trí mở mạch. Nếu cần thiết có thể bóc nội mạc của mạch không lấy được huyết khối tại vị trí tắc, cần tiến hành phẫu thuật bắc thuật bắc cầu nốiBộc lộ động mạch ở vị trí phía dưới hoặc trên chỗ tắc động mạch để làm cầu da đùi để lấy tĩnh mạch hiển theo đường đi của tĩnh mạch hiển lớn để sử dụng tĩnh mạch hiển để làm cầu mạch máu vị trí làm cầu nối phía trên. Làm miệng nối gần tận mạch nhân tạo hoặc tĩnh mạch hiển theo đường đi của mạch mạch máu vị trí miệng nối phía xa. Làm miệng nối xa tận dẫn lưu trong trường hợp cần các vết mổ, kết thúc phẫu thuật. dõi và các tai biến gắp sau phẫu thuật Theo dõiTheo dõi các dấu hiệu sinh chảy máu dùng các thuốc kháng sinh dự phòng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ và sau khi hết nguy cơ chảy máu khoảng 6-8 giờ sau mổ, cho bệnh nhân sử dụng thuốc chống đông biến xảy ra sau phẫu máu Điều chỉnh các thuốc đông máu, nếu chảy nhiều cần mổ lại cầm mạch sau mổ Cần mổ lại lấy huyết khối hoặc làm lại cầu nối động trùngRối loạn đông máu Cần điều chỉnh liều thuốc chống đông. pháp phòng ngừa bệnh tắc động mạch chi Hãy ngừng hút thuốc Thực hiện một số biện pháp dưới đây có thể giảm nguy cơ mắc bệnh động mạch chiVới những người hút thuốc là nên ngừng hút soát tốt các yếu tố nguy cơ gây bệnh như Đường huyết, huyết áp, lipid máu...Tập thể dục đều đặn mỗi động mạch chi là bệnh có thể gặp ở nhiều đối tượng, phẫu thuật can thiệp tái lưu thông động mạch cần thực hiện sớm khi phát hiện tình trạng tắc động mạch chi. Khi có các dấu hiệu nghi ngờ cần tới các cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán và điều trị sớm. XEM THÊM Phẫu thuật điều trị tắc động mạch chi cấp tính do huyết khối Bệnh mạch máu ngoại vi gồm những bệnh nào? Nguyên nhân và triệu chứng cảnh báo Chấn thương động mạch chi Triệu chứng, cách điều trị
II. Triệu chứng lâm sàngBiến chứng Viêm Tắc Tĩnh Mạch Chi Dưới Viêm Tắc Tĩnh Mạch Chi Dưới là gì ? Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới một bệnh đặc trưng bởi tình trạng viêm trong các bức tường của các tĩnh mạch ở hiện diện huyết khối. Các viêm nhiễm, trong mức độ khác nhau. Có thể tham gia các mô mạch máu xung tắc tĩnh mạch chi không nguy hiểm đến tính mạng, chỉ gây khó chịu, đau đớn và cản trở sinh trị bệnh này ngoài dùng thuốc cần kết hợp với thay đổi lối sống chế độ vận động dinh dưỡng cần luyện tập thói quen đeo băng chun áp lực . Trên lâm sàng thường kết hợp điều trị cả đông và tây y để nâng cao thể trạng bệnh nhân. Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Định nghĩa Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới còn gọi là huyết khối tĩnh mạch chi dưới. Là tình trạng tắc nghẽn tĩnh mạch chi dưới, vị trí thường ở các tĩnh mạch sâu vùng cẳng chân, vùng đùi, khoeo, tĩnh mạch chậu do sự hình thành cục máu đông gây lấp lòng mạch. Nguyên nhân Bệnh viêm tắc tĩnh mạch chi chưa được xác định rõ ràng nguyên nhân. Tuy nhiên, một số yếu tố nguy cơ viêm tắc tĩnh mạch chân gây ra do tổn thương chức năng các van một chiều của hệ tĩnh mạch ngoại biên đã được xác nhận như Quá trình thoái hóa do tuổi tác, do tư thế sinh hoạt hay làm việc phải đứng hay ngồi một chỗ lâu, Ít vận động, phải mang vác nặng , người béo phì, … Các nguyên nhân trên đã tạo điều kiện cho máu bị dồn xuống hai chân. Làm tăng áp lực trong các tĩnh mạch ở chân, lâu ngày sẽ gây tổn thương các van tĩnh mạch một chiều. Khi các van này bị suy yếu sẽ giảm khả năng ngăn chặn luồng máu chảy ngược xuống dưới do tác dụng của trọng lực, dẫn đến ứ máu ở hai chân; Các yếu tố nguy cơ như chế độ làm việc phải đứng nhiều, làm việc trong môi trường ẩm thấp, béo phì, chế độ ăn ít chất xơ và vitamin.. Chẩn đoán chung Biểu hiện lâm sàng tại chân bị huyết khối tĩnh mạch là các dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau, tăng trương lực cơ. Tuy nhiên, vì triệu chứng có thể không rõ ràng, cần đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh thuận lợi làm tăng nguy cơ tắc tĩnh mạch chi dưới. Cần phân biệt viêm tắc tĩnh mạch chi dưới với một số nguyên nhân khác cũng làm chân sưng to, đau – Tụ máu trong cơ thường xuất hiện sau chấn thương – Vỡ kén hoạt dịch sau khoeo chân thường ở bệnh nhân có tuổi, thoái hoá khớp. Chẩn đoán chính xác cục máu đông trong lòng tĩnh mạch khá đơn giản. Chỉ cần sử dụng một máy siêu âm có thể dễ dàng phát hiện cục máu đông trong lòng tĩnh mạch chi dưới, làm tĩnh mạch ấn không xẹp. Việc chẩn đoán sâu hơn, ví dụ tìm nguyên nhân bẩm sinh do rối loạn đông máu, hoặc nguyên nhân khác ung thư, bệnh mạn tính, hay chẩn đoán biến chứng thuyên tắc phổi, thường đòi hỏi được thực hiện ở cơ sở chuyên khoa tim mạch, có sẵn các thăm dò cận lâm sàng cần thiết phục vụ chẩn đoán. II. Triệu chứng lâm sàng a. Triệu chứng cơ năng – Đau tức 1 2 chân, cảm giác chuột rút. – Nặng 2 chân sau khi nằm, đứng, ngồi lâu mất hoặc giảm đi khi bệnh nhân đi lại – Đau nhiều khi có viêm tắc tĩnh mạch kèm theo. b. Triệu chứng toàn thân – Có hội chứng nhiễm trùng nếu có viêm tắc tĩnh mạch. – Bệnh lý tim mạch, hô hấp kèm theo c. Triệu chứng thực thể – Chi dưới nổi các búi tĩnh mạch. – Đám xuất huyết trên da. – Vết loét . – Sờ các tĩnh mạch, thấy tĩnh mạch sơ xơ cứng. – Khám các cơ quan khác Tim mạch, hô hấp, tiêu hóa,… – Nghiệm pháp Schwarz, ho,Trendelenburg và nghiệm pháp Perthe. Xét nghiệm lâm sàng Viêm Tắc Tĩnh Mạch Chi Dưới + Đo áp lực tĩnh mạch sâu chi dưới – Bình thường 9/10 lượng máu về của chân là nhờ các tĩnh mạch sâu. Hoạt động của các tĩnh mạch sâu này lại chịu ảnh hưởng rất lớn của vận động các cơ ở co bóp,các cơ này tạo nên áp lực đẩy máu về tim và hút máu từ hệ tĩnh mạch nông vào hệ tĩnh mạch sâu. + Chụp tĩnh mạch chi dưới – Có thể xác định được hình thái,vị trí,mức độ các tĩnh mạch giãn. Đặc biệt có thể xác định được vị trí các chỗ tắc hoặc nghẽn của tĩnh mạch. + Phương pháp đo sự thay đổi thể tích Plethysmography Có nhiều phương pháp đo sự thay đổi thể tích được áp dụng trong chẩn đoán bệnh giãn tĩnh mạch nông chi dưới – Phương pháp đo thay đổi thể tích tĩnh mạch vì lưu lượng của dòng máu tĩnh mạch tỉ lệ nghịch với sức cản của tĩnh mạch. Do đó có thể đánh giá được mức độ tắc tĩnh mạch bằng việc đo mức độ thay đổi thể tích của tĩnh mạch cẳng chân ở các thời điểm trước và sau bỏ ép tĩnh mạch ở gốc đùi. – Phương pháp đo thay đổi thể tích cẳng chân khi vận động,các cơ co bóp có tác dụng như một bơm hút làm tăng lưu lượng máu tĩnh mạch về tim và do đó làm giảm thể tích cẳng ngừng vận động,nếu van tĩnh mạch bị suy thì dòng máu tĩnh mạch trào ngược sẽ nhanh chóng làm tăng thể tích chung của cẳng đó,việc đo tốc độ thay đổi thể tích cẳng chân trước và sau vận động sẽ đánh giá được mức độ suy của van tĩnh mạch. + Phương pháp chụp siêu âm Doppler kép -Đây là phương pháp kết hợp chụp siêu âm Doppler và chụp siêu âm. Hình chụp siêu âm cho phép thấy được các mạch máu nằm ở dưới. Nhờ đó có thể định vị chính xác các tĩnh mạch để dùng xung siêu âm Doppler. Dánh giá dòng máu của các tĩnh mạch đó. Hiện nay đây là phương pháp có giá trị chính xác nhất để đánh giá tình trạng suy chức năng tĩnh mạch thông qua tốc độ dòng máu tĩnh mạch trào ngược. Nếu không được điều trị tốt,bệnh có thể gây ra các biến chứng sau + Thiểu dưỡng chân bị giãn tĩnh mạch nông dẫn tới viêm da,loét,nhiễm trùng,chảy máu tại ổ loét…làm mất khả năng lao động của bệnh nhân,thậm chí có khi phải cắt cụt chân. + Viêm nghẽn các Tĩnh mạch sâu do hậu quả của loét thiểu dưỡng và nhiễm trùng ổ loét ở chân. Làm cho bệnh diễn biến nặng hơn. Có trường hợp tạo nên cục tắc di chuyển lên gây tắc động mạch phôỉ dẫn tới tử vong đột ngột. Bệnh nhân sẽ được thăm khám lâm sàng, siêu âm doppler mạch máu… các chuyên gia sẽ lựa chọn ra phương pháp điều trị thích hợp cho người bệnh. Kết hợp với các phương pháp chữa bệnh, phòng bệnh – chữa bệnh trong gian đoạn mới bắt đầu của bệnh → Điều trị bằng MÁY NÉN ÉP TRỊ LIỆU SUY GIÃN TĨNH MẠCH phương pháp tiết kiệm chi phí vô cũng hữu ích cho người bệnh đó là điều trị bệnh suy giãn tĩnh mạch bằng MÁY NÉN ÉP TRỊ LIỆU SUY GIÃN TĨNH MẠCH Máy nén ép trị liệu suy giãn tĩnh mạch có công dụng co bóp tạo áp lực bằng hơi lên các mạch máu bị tắc ngẽn. Mạch máu bị cứng, bị phình to , bị tê buốt. Làm cho các tĩnh mạch hoạt động, giúp bơm lượng máu bị đọng lại ở phần dưới di chuyển đi khắp cơ thể tạo thành tuần hoàn máu lưu thông kinh mạch rất tốt cho cơ thể. Ngoài ra máy nén ép trị liệu còn có chức năng xoa bóp. Mát xa tạo cảm giác êm ái thư dãn khi bị nhức mỏi. Hệ thống nén ép trị liệu WonJin Mulsan. Bao gồm những túi khí được sử dụng để tạo áp lực truyền từ máy nén khí. Giúp xoa bóp lên vùng eo, tay hoặc chân. Có các chế độ xoa bóp liên tục và ngắt quẵng, có thể tùy chọn khoang xoa bóp theo yêu cầu điều trị. Áp lực khí gây tác động vào các mạch huyết giúp máu lưu thông đi khắp cơ thể. Từ đó giám thiểu triệu chứng phù nề bạch huyết. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để nhận được tư vấn tận tình nhất!!! CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ Y KHOA MDT
Viêm tắc động mạch chi dưới là bệnh lý dễ bị bỏ qua do bệnh có triệu chứng không rõ ràng và thường được chẩn đoán nhầm với các bệnh lý về cơ xương khớp, bệnh do tuổi già. Bệnh viêm tắc động mạch chi dưới là tình trạng hẹp/tắc lòng động mạch chậu, đùi, khoeo, cẳng và bàn chân do xơ vữa động mạch hoặc viêm nội mạc động mạch, làm giảm dòng máu nuôi phần chi phía dưới vị trí tổn thương. Bệnh lý mạn tính có triệu chứng không điển hình nên thường được chẩn đoán nhầm với các bệnh lý về cơ xương khớp, bệnh do tuổi già. Bệnh lý này được phát hiện qua siêu âm, hình ảnh chụp mạch máu. Bệnh thường gặp ở người cao tuổi và những người có các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa mỡ, ít vận động, béo phì… Dấu hiệu nhận biết Cần nghĩ đến viêm tắc động mạch chi dưới nếu bệnh nhân có các triệu chứng sau đau mỏi và co cứng bắp chân, đùi hoặc mông khi đi bộ, phải dừng lại, ngồi nghỉ một lúc mới có thể tiếp tục đi được. Hiện tượng đó lặp lại sau một khoảng cách đi bộ nhất định. Khoảng cách đó ngắn dần chứng tỏ bệnh đang tiến triển nặng lên; đau bàn chân, ngón chân liên tục, kể cả khi nghỉ ngơi. Bệnh nhân thường mất ngủ, mệt mỏi vì đau chân, da chân tái và lạnh. Giai đoạn nặng hơn sẽ bị loét và hoại tử các ngón chân, có thể cả bàn chân do thiếu máu nuôi dưỡng, kèm theo cảm giác đau liên tục, thuốc giảm đau hiệu quả không cao. Phần lớn người bệnh đến điều trị ở giai đoạn muộn do không có triệu chứng khi bệnh mới khởi đầu; hoặc nhầm với bệnh cơ xương khớp, đau thần kinh ngoại vi, do tuổi già... do đó việc điều trị bệnh thường được bắt đầu ở giai đoạn muộn với nhiều biến chứng nguy hiểm. Chẩn đoán và điều trị Nếu có triệu chứng như đã mô tả ở trên thì bệnh nhân cần đến các cơ sở y tế có chuyên khoa mạch máu để được chẩn đoán sớm và chính xác. Bác sĩ sẽ kiểm tra mạch đập ở các vị trí nếp bẹn, khoeo chân, mu chân và ống gót. Nếu không có mạch đập hoặc yếu hơn bình thường thì có thể nghĩ đến bệnh lý viêm tắc mạch. Bên cạnh đó, siêu âm mạch máu có thể biết rõ động mạch bị hẹp tắc ở đâu và mức độ như thế nào, đồng thời có thể cho biết mức độ thiếu máu chi dưới ra sao nhờ đo chênh lệch huyết áp giữa cổ chân và cánh tay. Ngoài ra, ở những bệnh viện có đầy đủ trang thiết bị y tế thì bệnh nhân có thể được chỉ định chụp mạch máu trên trên máy chụp kỹ thuật số DSA, chụp cắt lớp hệ động mạch chủ bụng chậu và toàn bộ chi dưới giúp xác định chính xác nhất vị trí động mạch bị tắc/hẹp. Với bệnh lý viêm tắc động mạch chi dưới, phương pháp điều trị tối ưu nhất, ít đau đớn cho bệnh nhân lớn tuổi là tái lưu thông động mạch bị tắc bằng phương pháp nong đặt stent động mạch chậu, đùi, khoeo… chi dưới qua da bằng ống thông. Dụng cụ can thiệp động mạch chi dưới là các dây dẫn, ống thông gắn bóng và stent, được đưa đến vị trí tổn thương qua một lỗ chọc kim ở động mạch thông gắn bóng được đưa vào vị trí hẹp/tắc của mạch để mở rộng lòng mạch. Tiếp theo, stent kim loại giá đỡ gắn trên một ống thông khác được đưa vào để mở rộng lòng mạch về mức bình thường và giữ cho lòng mạch không bị hẹp lại. Khi lòng mạch được mở thông, dòng máu được phục hồi lưu thông, các triệu chứng đau, mỏi chân khi đi bộ và đau khi nghỉ do thiếu máu sẽ giảm nhanh chóng. Các vết loét và vùng hoại tử sẽ hồi phục. Tuy nhiên phần hoại tử nặng không thể hồi phục được bắt buộc phải cắt bỏ. Chi phí để điều trị bệnh lý này còn khá cao, tuy nhiên bảo hiểm y tế hiện nay có thể chi trả trung bình khoảng 50 - 70% tổng chi phí điều trị. Vì vậy, nếu bệnh nhân có bảo hiểm y tế sẽ giảm gánh nặng tài chính rất nhiều. Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
tắc động mạch chi dưới